Vì sao Quân đội Nhân dân Việt Nam được đ.á.nh giá mạnh thứ 6 châu Á, thứ 17 Thế giới?

VdaiLy Poster |

Theo cập nhật mới nhất năm 2016, trang thống kê quân sự thế giới Global Firepower (GFP) với chỉ số sức mạnh GFP Index đã xếp Quân đội Nhân dân Việt Nam ở vị trí thuộc top các lực lượng quân đội mạnh. hàng đầu Thế giới. Cùng Vntinnhanh điểm qua các con số thống kê đáng chú ý được GFP sử dụ.ng cho phép tính của mình.

Tổng cộng có tới 50 thông số khác nhau được GFP tính đến, sau đó qua một thuật toán phức tạp để cho ra điểm số GFP Index của 126 quốc gia khác nhau trên Thế giới và đưa ra BXH dựa trên chỉ số đó.

Dưới đây là một số thống kê đáng chú ý nhất về Quân đội Nhân dân Việt Nam, theo GFP.

(Mọi con số trong bài đều do GFP tổng hợp từ nguồn riêng, có thể không phản ánh tình hình thực tế. Vì vậy tất cả chỉ mang tính tham khảo).

Nhân lực

Bên cạnh v.ũ kh.í, khí tài và tra.ng thiết bị hiện tại, thứ thực sự là nò.ng c.ốt của mọi đạo quân chính là con người. Lợi thế về mặt quân số bao giờ cùng được tính đến trong mọi cuộc ch.iến.

Về yếu tố này, nước ta hiện có dân số khoảng 94.348.835 người, trong đó tổng dân số đủ khả năng phục vụ quân sự là 41.505.000 (hạng 12 Thế giới). Mỗi năm nước ta lại có thêm 1.640.000 người đủ tuổi nhập ngũ phục vụ quân sự.

Quân số chính quy của nước ta hiện nay vào khoảng 415.000 quân (hạng 13). Tuy nhiên đáng kể là thêm khoảng 5.040.000 quân số dự bị, sẵn sàng được hu.y đ.ộng bất cứ lúc nào. Đây là lực lượng quân dự bị xếp số 1 Thế giới, nhiều hơn bất cứ quốc gia nào khác.

Trang bị lục quân

Gồm các thống kê về số lượng xe tăn.g chủ lực, xe tăng hạng nhẹ, các loại xe bọc thép, hỗ trợ hỏa lực, chở quân, các loại p.há.o,v.v.

Quân đội Nhân dân Việt Nam hiện có trong trang bị tổng cộng 1.470 xe tăng (hạng 18), 3.150 xe bọc thép. các loại (hạng 21), 1.100 hệ thống ph.áo phản lực, 2.200 khẩu ph.áo thông thường , 524 p.h.áo tự hành.

Trong thời gian qua, xuất hiện thông tin từ phía Nga về việc Việt Nam đang trong quá trình kết thúc đ.àm phá.n hợp đồng mua xe tăng ch.iến đ.ấu chủ lực T-90 hiện đại, với số lượng ít nhất 100 chiếc.

Hiện phía Việt Nam chưa lên tiếng gì về nguồn tin trên. Nếu chính x.á.c, đây sẽ là bước hiện đại hóa đáng kể nhất của l.ực lư.ợng lục quân sau nhiều thập kỷ qua.

Xe tăng chiến đấu chủ lực T-90MS nhiều khả năng sẽ có trong trang bị của quân đội nước ta

Bên cạnh tăng chi.ến đ.ấu chủ lực, các loại xe ch.iến đ.ấu và th.iết giá.p hạng nhẹ của Việt Nam cũng có nhiều nâng cấp nhỏ trong 10 năm trở lại đây, các khí tài mới được đến từ nhiều nguồn khác nhau.

Đa dạng hóa nguồn cung v.ũ k.h.í cũng là xu thế chung của toàn quân đội ta, giúp quân đội chủ động hơn trong việc tiếp cận công nghệ mới, đón đầu những cơ hội đến từ sự hợp tác quân sự sâu rộng với mọi quốc gia, sau khi Hoa Kỳ dỡ bỏ hoàn toàn cấ.m vận v.ũ kh.í với Việt Nam.

Các hệ thống pháo phản lực EXTRA và ACCULAR (Ảnh trên) và súng Galil ACE (Ảnh dưới, hàng dưới cùng) đều từ Israel là ví dụ sinh động cho đường lối đa dạng hóa nguồn cung v.ũ k.hí của Việt Nam

Trang bị Không Quân

Bao gồm cả máy bay cánh bằng và trực thăng, từ mọi quân binh chủng.

Tổng số máy bay có trong trang bị của Không quân Nhân dân Việt Nam là 289 chiếc (hạng 32), trong đó có 146 tiê.m kí.ch và máy bay chi.ến đấ.u các loại, 161 máy bay vận tải, 26 máy bay huấn luyện.

Tổng số trực thăng là 150 chiếc (hạng 31), trong đó có 25 trực thăng tấ.n cô.ng.

Một chiếc C-295, máy bay vận tải hiện đại nhất của Quân đội Việt Nam

Việt Nam hiện sở hữu đội máy bay chiế.n đấ.u thế hệ thứ 4 mạ.nh hàng đầu khu vực Đông Nam Á, với ch.ủ lực là các máy bay chi.ến đ.ấu Su-30 MK2 của Nga sản xuất.

Đã có nhiều tin đồn về việc Việt Nam sẽ mua thêm máy bay từ các nước khác, bên cạnh đối tác truyền thống là Nga, tuy nhiên hiện vẫn chưa có kế hoạch cụ thể nào được đưa ra.

Máy bay chiế.n đấ.u Su-22 sau khi nâng cấp lên chuẩn “M3″ sẽ tiếp tục được Việt Nam sử dụng cho tới khi có các loại máy bay hiện đại hơn được đưa về trực tiếp thay thế nhiệm vụ

Trong khi đó phía Nga vẫn luôn giữ thái độ cởi mở, ưu tiên bán cho Việt Nam cả những loại máy bay hiện đại nhất của nước này. Chính vì vậy giới quan s.át tin rằng các máy bay hiện đại hơn, thế hệ 4++ và 5 của Nga sẽ sớm có mặt trong Không quân Việt Nam.

Su-30 MK2 hiện nay là xư.ơng s.ống của lực lượng máy bay c.hiến đ.ấu Việt Nam

Trang bị Hải quân

Hiện Việt Nam có tổng số tàu hải quân là 65 chiếc (hạng 37), trong đó có 7 khinh hạm, 11 tàu tê.n lử.a, tàu ph.á.o nhỏ, 5 tàu ngầm, 23 tàu tuần tra gần bờ, 8 tàu quét lôi/rải mì.n.


Sự xuất hiện của các khinh hạm Gepard, rồi tàu ngầm Kilo, đã làm thay đổi bộ mặt của Hải quân Việt Nam

Trước những diễn biến phức tạp trên biển Đông, Hải quân là lực lượng được tập trung hiện đại hóa trong thời gian qua. Chỉ trong một thời gian ngắn, từ chỗ chỉ có những đội tàu cũ kỹ, lạc hậu, Hải quân Việt Nam đã được trang bị số lượng tàu chiến mặt nước và tàu ngầm hiện đại đủ sức để phòng thủ bờ biển dài của nước ta.

Dự trữ tài nguyên (dầu mỏ)

Bất kể lợi thế về công nghệ ch.iến tra.nh đến đ.âu, dầu mỏ vẫn luôn đóng vai trò là nguồn “m.áu” nuôi sống mọi lực lượng chi.ến đấ.u.

Sản lượng dầu mỏ của nước ta hiện ở mức 298.400 thùng dầu thô/ngày. Trong khi đó lượng tiêu thụ dầu mỏ trong nước là 415.000 thùng dầu thô/ngày, dự trữ dầu thô là 4.4 tỷ thùng.

Với sự phát triển nhanh của nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện sản lượng khai thác dầu thô của nước ta đang thấp hơn lượng tiêu thụ nội địa, buộc ngành dầu khí phải tham gia hợp tác khoan thăm dò và khai thác tại khắp nơi trên Thế giới.

Hậu cần

Chiến tranh ngoài những tr.ận gia.o đ.ấu trên chiến trường, còn là cuộc chiến không khoan nhượng ở khâu hậu cần. Phe nào có hệ thống luân chuyển người, hàng hóa, lương thực, kh.í giới từ hậu phương ra tiền tuyến tốt hơn sẽ nắm lợi thế rất lớn. Điều này đã được thể hiện rõ qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của Việt Nam.

Hiện Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào lên tới 54.170.000 người (hạng 11), số lượng tàu buôn tư nhân là 579 chiếc, số cảng biển lớn là 6.

Tổng chiều dài đường bộ của Việt Nam là 180.549km (hạng 26), đường sắt là 2.632km (hạng 62). Số sân bay có thể khai thác được là 45.

Trên đây là một số những con số thống kê đáng chú ý nhất, cộng với nhiều thống kê khác, GFP đánh giá chỉ số sứ.c mạ.nh quâ.n sự của Việt Nam ở mức 0.3684 (0.0000 là cao nhất), xếp hạng 17 Thế giới, thứ 6 ở châu Á. Tại Đông Nam Á, Việt Nam chỉ xếp sau Indonesia (hạng 14), quốc gia có dân số đông vượt trội

(Theo Báo Tin Nhanh)